Sách về Hoàng hậu Nam Phương: người vấn khăn vành dây cho hoàng hậu (kỳ cuối)

Theo tư liệu của tác giả Trịnh Bách kể lại thì cuối mùa xuân năm 1931, nhà báo Mỹ W. Robert Moore đã mục kích lễ đón tiếp Vua và Hoàng hậu Thái Lan sang thăm Việt Nam tại kinh đô Huế. Bà Hoàng Thái hậu phải đảm nhiệm việc tiếp khách, vì Vua Bảo Đại còn đang du học bên Pháp. Nghi lễ và sự hoành tráng của các buổi tiếp tân, yến tiệc đã khiến ông Moore hồi tưởng lại các dịp lễ tương tự ở đế đô Bắc Kinh trước Cách mạng Tân Hợi 1911.

Nhưng kỷ niệm thú vị nhất của nhà báo Mỹ này khi ở Huế là việc ông được một vị Trưởng Công chúa triều Nguyễn tiếp kiến tại phủ riêng của bà. Ông Moore kể lại rằng: “Vị ái nữ xinh đẹp của bà Chúa đã rộng lượng cho chúng tôi được thưởng thức tài nghệ đàn tranh của cô. Sau đó cô cùng vị giáo sư già khiếm thị và nhạc sĩ đàn dây khác trong phủ hợp tấu, trong khi các ca công trẻ hát những bài ca Huế…”. Nàng công nữ xinh đẹp ấy có cái tên “rất Huế” là Mệ Bông. Theo tục lệ cổ của triều Nguyễn, tất cả thành viên của Hoàng tộc đều được gọi là Mệ, và kèm theo cái tên nghe thật bình dân. Tiếng Mệ dần dà đã trở thành âm thanh có tính biểu tượng rất dễ thương của Huế.

Nam Phương thuường mời Mệ Bông vào cung vấn khăn cho bà.

Hoàng hậu Nam Phương thường mời Mệ Bông vào cung vấn khăn cho bà.

Thân mẫu Mệ Bông là Công chúa Nguyễn Phúc Tôn Thụy, trưởng nữ của Cung Tôn Huệ Hoàng đế Dục Đức. Bà trở thành Trưởng Công chúa khi em trai bà là Hoàng đế Thành Thái lên ngôi năm 1889. Bà được sắc phong tước hiệu Mỹ Lương Công chúa năm 1897, thường được gọi là Bà Chúa Nhất. Công chúa Mỹ Lương có công rất lớn đối với nghệ thuật tuồng cung đình của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Đội ca vũ tuồng cung đình do bà lập ra và huấn luyện đã trình diễn trong Hoàng cung từ cuối triều Thành Thái, qua các triều Duy Tân, Khải Định và nhất là Bảo Đại. Bà Chúa cũng là một trong những sáng lập viên và mạnh thường quân chính của Hội Lạc Thiện, lập ra để cứu tế, giúp đỡ đồng bào khốn khổ và các nạn nhân bị thiên tai quanh kinh đô. Thân phụ của Mệ Bông là Nguyễn Kế, con trai của Diên Lộc Quận công Nguyễn Thân, một vị phụ chính đại thần nổi tiếng cuối triều nhà Nguyễn.

Khi đã là một bà lão ở tuổi cửu tuần, Mệ Bông vẫn chỉ trả lời những câu hỏi liên quan đến tuổi tác bằng những nụ cười thật hiền. Khi tác giả Trịnh Bách ngỏ lời muốn được gặp và phỏng vấn Mệ Bông vào đầu tháng 9/2001, thân quyến của Mệ tỏ ra lo ngại. Sau khi bị tai biến mạch máu não, Mệ đã nằm liệt giường gần hai năm, nói năng rất khó và Mệ không còn nhớ gì… Trên thực tế, Mệ Bông còn nhớ mọi chuyện rất rõ. “Lúc nào trong phủ Đức Bà cũng nuôi năm chục người. Họ vừa là người giúp việc, vừa là tài tử, đào hát của đoàn tuồng. Người ca giỏi nhất trong đoàn là Mụ Liễu. Ngoài ra còn Quý này, Ninh này, Thanh này, Yến này… đông lắm! Đức Bà cho họ huấn luyện cả ngày cả đêm…”. Mệ cũng kể đến một điệu múa mà các vũ công trên đầu vấn khăn, trong mặc áo bào xiêm, ngoài khoác áo lá tua. Đây là điệu múa Nữ tướng mà cậu của Mệ là Vua Thành Thái rất ưa thích. Qua điệu múa có tính chất tuồng này, nhà vua đã gián tiếp bảo lộ hoài bão cứu đất nước khỏi ách thống trị của người Pháp.

Tuy Mệ Bông rất thành thạo về đàn tranh và ca Huế, Mệ chỉ học và tự tiêu khiển thôi. Phần lớn thì giờ của Mệ được dành cho các công việc trong cung. Trong khi bà Tiên cung Thái hoàng Thái hậu, bà nội ruột của Hoàng đế Bảo Đại phải chăm sóc việc nghi lễ, tiếp khách thì bà Chính cung Thái hoàng Thái hậu, tức bà Thánh Cung thường phải nằm nghỉ trong cung Trường Sanh do bị bệnh khớp nặng. Từ thuở nhỏ, Mệ Bông đã phải vào đọc sách, truyện giải sầu cho bà Thánh Cung. Vì Mệ rất thân với Hoàng Thái tử Thiền (tức Hoàng đế Bảo Đại sau này) nên bà Thánh Cung coi Mệ như cháu bà.

Các bà trong nội cung cũng đều thích được Mệ Bông vấn khăn vành dây cho họ. Mệ Bông nổi tiếng về tài vấn khăn này. Khăn làm bằng nhiễu mỏng, dài từ 10 đến 20 thước tây. Khăn rộng khoảng 45 phân tây, được xếp lại còn chiều rộng chừng năm phân tây. Người có tước phẩm càng cao thì khăn càng dài. Trước hết một đoạn khăn vấn được bao vào tóc để làm nền, rồi khăn vành dây được cuộn tiếp theo, phủ ra ngoài. Khăn vành dây có vị trí rất quan trọng trong nghi lễ của triều đình Huế. Bà Tam giai Diệu tần Phạm Thị Hoài, vợ Vua Khải Định, đã phải ngủ ngồi nhiều ngày trong các dịp đại kỵ để khỏi phải vấn khăn lại. Mệ Bông rất hãnh diện về tài vấn khăn nhanh của Mệ, chỉ mất khoảng hơn nửa giờ là vấn xong. Hoàng hậu Nam Phương thường mặc Âu phục, nhưng mỗi lần cần đến triều phục thì bà lại cho vời người vào cung để vấn khăn cho bà.

Các hoàng đế cũng cần đến Mệ Bông vì tài bếp núc của Mệ. Khi cựu hoàng Thành Thái về thăm Huế năm 1953 sau suốt ba thập kỷ bị nhà cầm quyền Pháp an trí ở đảo Réunion thuộc châu Phi, ông đã quyết định: “Ở tại phủ chị Chúa để con Bông nó nấu cho ăn”. Trái với sự tưởng tượng của mọi người, các hoàng đế ở Huế không chuộng những món yến tiệc cầu kỳ cho lắm. Các đại yến 60 món, trung yến 49 món, tiểu yến 30 món với ảnh hưởng của Trung Quốc thường được dùng để đãi quốc khách hay các quan. Còn mỗi món ăn hàng ngày để hoàng đế ngự thiện có thể nói là đạm bạc. Trong cung có hai ông bếp chính là ông Lợi người Bắc và ông Nghĩa người Quảng Nam chuyên nấu các cỗ Âu. Nhưng mỗi khi trong cung cần đến tiệc Việt Nam thì Mệ Bông lại phải vào phụ Mã Thông, Mã Trọn – hai đầu bếp món Huế trong cung.

Đối với Mệ Bông thì thời gian đã dừng lại khi nhà Nguyễn cáo chung cùng với việc Bảo Đại thoái vị năm 1945. Sự mất mát lớn nhất trong đời Mệ Bông xảy ra vào năm 1948 khi chiến tranh cướp đi người chồng yêu quý của Mệ Bông và Mệ không bao giờ tái giá nữa. Niềm an ủi của Mệ bây giờ là cung An Định ở An Cựu, nơi Hoàng Thái hậu Từ Cung và một số mệnh phụ còn giữ lại được phần nào nếp sống xưa. Mệ vẫn hay vào cung sống với Bà, và giúp Bà với hai công việc ưa thích của Mệ là vấn khăn vành dây và bếp núc.

Năm 1954 lại biến đổi đời Mệ Bông thêm lần nữa. Người con gái độc nhất của Mệ Bông ở tuổi 18, bỗng nhiên một hôm biệt tích. Tìm con đến tận Sài Gòn cũng không ra, Mệ gần như điên loạn. Mãi hai năm sau Mệ mới nhận được thơ của cô gửi từ Hà Nội cho biết cô đã tập kết ra Bắc để tham gia cách mạng. Rồi sự bình yên của cung An Định cũng không còn khi ông Ngô Đình Diệm ra lệnh quốc hữu hóa cung này. Sau đó ông Diệm lại triệu Mệ Bông vào Sài Gòn để nhờ Mệ cố vấn cho các bữa yến tiệc trong Dinh Độc Lập. Từ đó Mệ không bao giờ trở về sống ở Huế nữa.

Khi đất nước thống nhất 1975, người con gái tập kết năm xưa lặn lội vào Sài Gòn tìm mẹ. Mệ Bông như được hồi sinh. Mệ xuống tóc để tạ ơn Trời Phật và từ đó Mệ chỉ vui với con cháu, ít khi ra ngoài. Lần cuối cùng Mệ Bông trổ tài vấn khăn vành dây là vào dịp đám cưới người cháu gái năm 1985. Các hình bóng một thời thân thương cũng dần dần ra đi. Hoàng hậu Nam Phương mất bên Pháp năm 1963. Bà Chúa Nhất mất năm 1964. Bà An Phi, vợ chính của Vua Khải Định mất năm 1978. Bà Hoàng Quý phi Mai Thị Vàng, vợ Vua Duy Tân mất năm 1980. Hoàng Thái hậu Từ Cung cũng mất năm 1980. Hoàng đế Bảo Đại, người anh em họ của Mệ cũng mất tại Pháp năm 1997.

Khi tác giả Trịnh Bách đến thăm và phỏng vấn Mệ Bông, như có một phép lạ, Mệ đã ngồi dậy được để mặc cái áo mệnh phụ tứ thân, giống như áo Bà Chúa Nhất mặc năm xưa, chụp ảnh lưu lại cho con cháu. Mệ cười thật tươi và đùa rằng nay Mệ được sắc phong.

Khi bài viết của tác giả Trịnh Bách được lên khuôn in, thì ông cũng nhận được tin Mệ Bông, tức Tôn Nữ Nguyễn Thị Cẩm Hà, nhân chứng cuối cùng của cung vàng điện ngọc triều Nguyễn đã qua đời ngày 19/9/2001.

Phần 1. Hết trích đăng.

(Trích sách Nam Phương – Hoàng hậu cuối cùng, Saigonbooks và Nhà xuất bản Thế giới)