‘The Greatest Showman’ chưa chạm đến chiều sâu cảm xúc

The Greatest Showman – phim đầu tay của đạo diễn Michael Gracey – được xem là phim ca nhạc nổi bật nhất năm 2017. Tác phẩm được đề cử Quả Cầu Vàng ở ba hạng mục, gồm “Phim hài/nhạc kịch hay nhất”, “Nam diễn viên chính xuất sắc trong phim hài/nhạc kịch” dành cho Hugh Jackman và “Bài hát trong phim hay nhất” cho ca khúc This is Me.

Bộ phim giống như một cuốn băng tua nhanh về cuộc đời của P.T. Barnum (Hugh Jacman) – người được coi là ông tổ của các bầu show tạp kỹ. Xuất thân là con trai của một thợ may, Barnum khao khát được tỏa sáng dưới ánh đèn sân khấu. Cậu đem lòng cảm mến Charity (Michelle Williams) – cô tiểu thư của tầng lớp thượng lưu. Sau khi bố qua đời, Barnum phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống, thậm chí nhiều khi đói quá phải đi trộm bánh mì.

* “The Greatest Showman” có những giai điệu bắt tai

The Greatest Showman (Bậc thầy của những ước mơ)
The Greatest Showman (Bậc thầy của những ước mơ)

Một ngày, khi được một người có gương mặt kỳ dị tặng quả táo, Barnum được truyền cảm hứng để cho ra đời một gánh xiếc. Sau đó, anh và Charity đến với nhau bất chấp sự phản đối của gia đình cô. Barnum tập hợp những người kỳ dị từ khắp mọi nơi, hoặc những kẻ dưới đáy xã hội, để tạo thành một show trình diễn gây chú ý nhất nước Mỹ. Từ đó, anh trở thành một ông bầu nổi tiếng nhưng cũng nhiều tai tiếng, đặc biệt là khi nàng “sơn ca Thụy Điển” Jenny Lind (Rebecca Ferguson) xuất hiện.

Dàn diễn viên đình đám của phim vừa có khả năng diễn xuất, vừa là những cái tên thu hút được khán giả. Hugh Jackman và Michelle Williams vốn là những ngôi sao hạng A đã được công nhận về tài năng bằng những đề cử Oscar. Trong khi đó, Zac Efron và Zendaya là những gương mặt đang có lượng fan rất đông đảo. Trong dàn diễn viên phụ, đáng chú ý nhất là Keala Settle – một nghệ sĩ nhạc kịch Broadway nổi tiếng và cũng là người thể hiện This is Me – bài hát nổi bật nhất phim.

* Keala Settle hát “This Is Me”

Keala Settle hát "This Is Me"
Keala Settle hát “This Is Me”

15 phút đầu tiên của bộ phim điểm qua giai đoạn từ khi Barnum và Charity còn nhỏ tới khi họ trưởng thành. Đó có lẽ cũng là 15 phút hay nhất của cả tác phẩm khi câu chuyện, âm nhạc, các màn vũ đạo gắn kết với nhau và tạo được cảm xúc.

Âm nhạc của The Greatest Showman do Benj Pasek và Justin Paul – những người từng tạo nên thành công cho La La Land năm ngoái – thực hiện. 11 ca khúc rất bắt tai, dễ khiến khán giả yêu thích ngay từ lần nghe đầu tiên. Các màn vũ đạo kết hợp biểu diễn được dàn dựng rất công phu, sôi nổi và tràn đầy năng lượng. Màn đu dây của hai nhân vật do Zac Efron và Zendaya thể hiện rất lãng mạn, ngọt ngào.

Một điểm nổi bật nữa là bộ phim lấy bối cảnh New York trong quá khứ nhưng câu chuyện về showbiz, về nghệ thuật đánh bóng hình ảnh hay các scandal lại khá gần gũi với cuộc sống hiện đại. “Cuộc chiến” nhiều chiêu trò giữa Barnum và nhà phê bình James Gorden Bennett của tờ New York Herald được điểm xuyết trong câu chuyện, tạo nên màu sắc trào phúng cho bộ phim.

Zac Efron thủ vai một nghệ sĩ cộng tác với Hugh Jackman.

Zac Efron thủ vai một nghệ sĩ cộng tác với Hugh Jackman.

The Greatest Showman là một bộ phim dễ tạo thiện cảm với khán giả đại chúng bởi phần hình ảnh, dàn diễn viên đẹp và tài năng, âm nhạc bắt tai. Nhưng xét về chuyên môn, tác phẩm này chỉ dừng ở mức trung bình bởi sự gắn kết về mặt cảm xúc khá rời rạc, dù đạo diễn Michael Gracey đã làm khá tốt phần bề nổi.

Âm nhạc của phim bắt tai nhưng đều là những ca khúc pop đại chúng xuất hiện nhan nhản ngoài thị trường và rất khó phân biệt. Ngoài những bài hát nổi bật như This is Me hay A Million Dreams, các ca khúc còn lại rất khó để phân biệt vì giai điệu na ná nhau. Nhiều đoạn ca hát xen lẫn đối thoại được thực hiện gượng ép, nhiều khi làm mạch cảm xúc của câu chuyện bị đứt quãng.

Hugh Jackman tiếp tục thể hiện khả năng ca hát và vũ đạo trong bộ phim này nhưng không có sự đột phá về diễn xuất. Mọi thứ anh làm trong phim, khán giả đều có thể đoán ra được và biết chắc Hugh Jackman sẽ làm như vậy, từ ánh mắt, cử chỉ đến cả sự bối rối, ngỡ ngàng. Vai diễn này của tài tử Australia quá nhẹ nhàng nếu so với một vai diễn nhạc kịch trước đây là Jean Valjean trong Les Misérables (Những người khốn khổ, 2013).

Một cảnh đẹp mắt khi nhân vật của Zedaya biểu diễn đu dây.

Một cảnh đẹp mắt khi nhân vật của Zedaya biểu diễn đu dây.

Nhân vật Jenny Lind được giới thiệu là một ca sĩ Opera, nhưng khi cô bước lên sân khấu trong một khán phòng có vẻ giống một buổi hòa nhạc Opera, bài hát Never Enough của cô lại không khác gì một bản nhạc pop. Âm nhạc của The Greatest Showman dễ nghe nhưng chưa đủ dấu ấn để có được một đời sống riêng sau khi bộ phim rời rạp chiếu. Ở điểm này, tác phẩm còn khoảng cách xa với La La Land – phim xuất sắc năm ngoái.

Rebecca Ferguson thủ vai một nữ danh ca trong phim.

Rebecca Ferguson thủ vai một nữ danh ca trong phim.

The Greatest Showman là một phim ca nhạc giải trí tạm ổn nhưng để coi là một tác phẩm tốt thì chưa hẳn. Phim có không khí sôi nổi, rộn ràng và có thể khiến khán giả đại chúng mơ màng trong thế giới của Barnum với những bản nhạc pop lãng mạn, êm dịu. Nhưng chỉ có vậy. The Greatest Showman chỉ đơn thuần là đưa sự vui vẻ, mộng mơ tới người xem trong mùa lễ hội cuối năm.

The Greatest Showman (Bậc thầy của những giấc mơ) khởi chiếu tại Việt Nam từ ngày 29/12.

Nguyên Minh